Tiết đọc thư viện - Cặp đôi
Rump – Cậu Bé Xe Rơm Thành Vàng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:12' 16-09-2024
Dung lượng: 10.9 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:12' 16-09-2024
Dung lượng: 10.9 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
1. Tên gọi chính là vận mệnh
2. Xa quay sợi và cơn kích động của bầy tiên tí hon
3. Lão chủ cối xay tham lam và đứa con gái
4. Red và Bà của cô bé
5. Xơ sợi thành chuột, chuột thành đàn chuột
6. Vàng! Vàng! Vàng!
7. Có vàng mới có thức ăn
8. Vàng nghĩa là bí mật
9. Tìm thấy vàng, mất báu vật
10. Những cuộc mặc cả thiếu công bằng
11. Vua Barf
12. Lời nói dối của lão chủ cối xay
13. Phù Thủy Rừng Xanh
14. Rump lên đường giải cứu
15. Rơm, rơm, rơm
16. Một vụ mặc cả quá đắt
17. Những câu chuyện bất tận của bà Martha
18. Đi tìm Stiltskin
19. Quỷ khổng lồ, Phù thủy và Táo độc
20. Quỷ khổng lồ nặng mùi, nhưng cũng rất thính mũi
21. Xa Xa
22. Những Phù Thuỷ Len
23. Phát điên
24. Có chí mà chẳng nên
25. Lời cảnh báo từ Red
26. Những tiếng gọi định mệnh
27. Lão chủ cối xay và tên lái buôn
28. Nỗ lực cuối cùng
29. Trò chơi đoán tên
30. Stiltskin
31. Phép màu trong ngày thứ ba
32. Từ những điều nhỏ bé
Vĩ Thanh Vận mệnh chính là tên của bạn
CHƯƠNG 1
Tên gọi chính là vận mệnh
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
ái tên mẹ đặt cho tôi có nghĩa là mông bò(1). Nó đã trở thành câu
chuyện cười rất được ưa chuộng trong làng, và có lẽ cũng là duy
nhất, nhưng nó không thật sự chính xác. Ít nhất, tôi không tin nó
là sự thật và nội cũng thế. Thật ra mẹ tôi đã đặt cho tôi một cái tên
khác, một cái tên tuyệt vời, nhưng chưa ai từng được nghe. Mọi
người chỉ được nghe phần đầu tiên - phần xấu xí nhất.
Khi sinh tôi mẹ đã rất ốm yếu. Nội kể rằng hồi ấy mẹ bị sốt và ho,
vì thế mà tôi bị sinh non. Tuy nhiên, mẹ vẫn ôm tôi vào lòng và thì
thầm nói cho tôi biết tên của mình. Không ai nghe thấy, ngoại trừ tôi.
“Tên thằng bé là gì?” Nội hỏi. “Nói mẹ nghe tên nó.”
“Tên thằng bé là Rump... Khụ khụ khụ...” Nội đưa cho mẹ một cốc
nước ấm để uống và đón lấy tôi từ tay mẹ.
“Cho mẹ biết tên đầy đủ của thằng bé đi, Anna.”
Nhưng mẹ không còn đủ sức để làm được điều đó nữa. Mẹ hít
một hơi thật sâu rồi thở hắt ra toàn bộ lượng không khí và không hít
thở nữa. Không bao giờ.
Nội kể lúc ấy tôi đã khóc ré lên, nhưng tôi không bao giờ nghe
được tiếng khóc ấy trong tâm tưởng của mình. Tất cả những gì tôi
nghe thấy chỉ là thinh lặng. Không một cử động hay hơi thở. Ngọn
lửa cũng không lép bép và bầy tiên tí hon cũng lặng im.
Cuối cùng, Nội ẵm tôi lên và nói, “Rump! Tên đứa bé là Rump.”
Sáng hôm sau, chuông trong làng ngân vang và lũ quỷ lùn chạy
khắp vùng Ngọn Núi hô lên: “Rump, Rump! Tên đứa bé mới sinh là
Rump!”
Tên tôi không thể thay đổi cũng như rút lại, bởi lẽ ở Vương Quốc,
cái tên không chỉ là thứ mà mọi người gọi bạn. Cái tên còn mang rất
nhiều ý nghĩa và quyền lực. Tên gọi chính là vận mệnh.
Vận mệnh của tôi thật là tồi tệ.
Lên tám tuổi tôi ngừng lớn. Cơ thể tôi quá còi cọc và phải khó
khăn lắm mới có thể làm việc. Bà mụ Gertrude nói, sở dĩ tôi nhỏ bé
như vậy là bởi tôi lớn lên bằng sữa của một con dê yếu ớt thay vì một
bà mẹ khỏe mạnh, nhưng tôi biết sự thật nằm ở cái tên của mình. Bạn
không thể trưởng thành nếu như không có một cái tên đầy đủ.
Tôi cố gắng không nghĩ quá nhiều đến vận mệnh của mình,
nhưng cứ đến ngày sinh nhật là tôi lại nghĩ đến nó. Lần sinh nhật thứ
mười hai, tôi đã chẳng nghĩ được điều gì khác. Tôi ngồi trong khu
mỏ, đãi bùn trong một cái chảo để tìm vàng. Thứ chúng tôi cần là
vàng, vàng và vàng, nhưng những gì tôi thấy chỉ rặt bùn, bùn và bùn.
Những tiếng cuốc chim tạo nên những giai điệu vang vọng khắp
vùng Ngọn Núi. Khắp nơi tràn ngập những âm thanh băm băm, tăm
tăm. Tôi tưởng như Ngọn Núi đang ngân nga: Tăm, tăm, tăm, băm,
băm, băm, Rump, Rump, Rump(2) bởi ít nhất chúng cũng có vần có
điệu.
Tăm, tăm, tăm
Băm, băm, băm
Rump, Rump, Rump
“Mông! Ê này, thằng Mông!”
Tôi rên lên khi Frederick và thằng em Bruno tiến lại gần tôi với nụ
cười nhăn nhở đầy đe dọa. Freedrick và Bruno là con trai của lão chủ
cối xay. Chúng xấp xỉ tuổi tôi, nhưng bự con gấp đôi và xấu xí như
quỷ khổng lồ.
“Chúc mừng sinh nhật Mông! Chúng tao có một món quà tặng
riêng cho mày đây.” Frederick ném một cục đất vào tôi. Bàn tay ngắn
ngủn của tôi cố chặn nó, nhưng nó vẫn đập thẳng vào mặt tôi và cái
mùi của nó khiến tôi phát ọe. Đó không phải là một cục đất.
“Đó là món quà xứng đáng với cái tên của mày!” Bruno nói.
Những đứa trẻ khác cười rú lên.
“Để cậu ấy yên,” một cô bé tên là Red hét lên. Cô bé nhìn trừng
trừng vào Frederick và Bruno, vác cái xẻng trên vai như thể một thứ
vũ khí. Lũ trẻ không cười nữa.
“Ồ! Mày yêu thằng Mông à?”, Frederick nói.
“Đó không phải tên cậu ấy,” Red gằn giọng.
“Thế tên nó là gì? Tại sao nó không nói cho chúng tao?”
“Rump!” Tôi buột miệng nói mà không kịp suy nghĩ. “Tên tao là
Rump!” Lũ trẻ lại cười rộ lên. Tôi đã làm đúng điều chúng muốn.
“Nhưng đó không phải tên thật của tao!” Tôi nói thêm vẻ đầy tuyệt
vọng.
“Không phải sao?” Frederick hỏi.
“Anh nghĩ tên thật của nó là gì?” Bruno hỏi.
Frederick giả vờ suy nghĩ rất lung. “Cái gì đó thật khác thường.
Cái gì đó thật đặc biệt - Mông Bò.”
“Mông Em Bé”, Bruno phụ họa.
“Thịt Mông Nướng!”
Lũ trẻ đều cười. Frederick và Bruno nghiêng ngả vào nhau, ôm
bụng cười chảy cả nước mắt. Chúng lăn lộn trên đất và ré lên eng éc
như lũ lợn.
Trong tích tắc, tôi chợt thấy ghen tị với chúng. Trông chúng có vẻ
rất vui, cười lăn lộn trên mặt đất. Tại sao tôi không thể làm như thế?
Tại sao tôi không được nhập hội cùng bọn chúng?
Thế rồi tôi sực nhớ ra lý do khiến chúng cười.
Red vung xẻng xuống mạnh đến nỗi cây xẻng cắm phập xuống
khoảng đất ngay giữa đầu hai thằng bé. Frederick và Bruno nín bặt.
“Cút đi,” cô bé nói.
Bruno nuốt nước bọt, trợn mắt nhìn cây xẻng chỉ cách mũi nó vài
inch(3). Frederick đứng dậy nhăn nhở cười với Red. “Phải rồi. Chúng
mày muốn được ở riêng với nhau đây mà”. Nói rồi hai anh em bước
đi, khịt khịt mũi và đổ dúi vào nhau.
Tôi cảm thấy Red đang nhìn mình, nhưng tôi chỉ trừng trừng nhìn
vào cái chảo. Tôi nhặt mấy mẩu quà tặng của Frederick và Bruno. Tôi
không muốn nhìn Red.
“Tốt hơn hết hôm nay cậu nên kiếm được ít vàng Rump ạ”, Red
nói.
Tôi giận dữ nhìn cô bé. “Tôi biết. Tôi có ngốc đâu.”
Cô nhướng mày. Nhiều người thực sự nghĩ tôi ngu ngốc vì cái tên
của mình và đôi lúc tôi nghĩ có thể họ đã đúng. Có lẽ nếu bạn chỉ có
nửa cái tên, bạn cũng chỉ có nửa bộ não.
Tôi dán mắt vào chảo bùn, những mong Red đi đi cho khuất mắt,
nhưng cô bé vẫn đứng trước mặt tôi với cây xẻng của mình, như thể
đang thăm dò tôi.
“Khẩu phần ngày càng bị siết chặt”, Red nói. “Nhà vua...”
“Tôi biết, Red.”
Red giận dữ nhìn tôi. “Tốt. Vậy chúc cậu may mắn.” Cô bé đùng
đùng bỏ đi, và tôi còn cảm thấy nặng nề hơn cả lúc bị Frederick và
Bruno ném phân vào mặt.
Red không hẳn là bạn tôi, nhưng cô ấy là người gần với khái niệm
bạn bè nhất mà tôi có. Cô không bao giờ đem tôi ra làm trò cười.
Nhiều lúc cô bảo vệ tôi, và tôi biết lý do tại sao. Tên của cô cũng
không đẹp đẽ gì. Trong khi người ta chế nhạo một cái tên như Red(4).
Red không phải là một cái tên. Nó là một màu sắc, màu sắc ma quỷ.
Nó sẽ đem lại thứ vận mệnh nào chứ?
Tôi vẫn khuấy bùn trong chảo để tìm kiếm một ánh sáng lấp lánh.
Làng chúng tôi sống nhờ vào vàng ở Ngọn Núi, nhưng giờ còn lại rất
ít. Người thu thuế hoàng gia đi thu tất cả chỗ vàng chúng tôi đãi được
và mang nó về cho nhà vua - Vua Barf. Nếu vua Barf hài lòng với vàng
của chúng tôi, ngài sẽ cấp cho chúng tôi thêm khẩu phần lương thực.
Nếu ngài không hài lòng, chúng tôi sẽ bị đói.
Vua Barf thật ra không phải tên là vua Barf. Tên thật của ngài là
Bartholomew Archibald Reginald Fife, một cái tên tuyệt vời, cao quý
và dĩ nhiên là một cái tên mang vận mệnh vĩ đại. Nhưng tôi chẳng
quan tâm cái tên ấy khiến bạn trở nên đẹp đẽ và quyền lực thế nào,
mà đọc chỉ thấy mỏi mồm. Do đó, tôi gọi tắt ngài là Vua Barf, dù tôi
không bao giờ dám nói to cái tên ấy ra.
Một con tiên tí hon bay vào mặt tôi, mái tóc màu hồng nhạt và đôi
cánh trong mờ. Tôi cố xua nó đi nhẹ nhàng, nhưng nó chỉ vỗ cánh rồi
lại tiếp tục cuộc tìm kiếm. Nó cũng đang tìm vàng, giống như tôi.
Tiên tí hon bị ám ảnh bởi vàng. Đã từng có thời chúng rất hữu ích
trong các khu mỏ, bởi lẽ chúng có thể ngửi thấy các mạch vàng lớn
nằm sâu dưới lòng đất từ khoảng cách vài dặm. Khi một bầy tiên tí
hon bay quần thảo quanh một tảng đá nào đó, những người thợ mỏ
sẽ biết đó là nơi họ nên đào.
Nhưng đã nhiều năm nay Ngọn Núi không còn vàng nữa. Chúng
tôi chỉ còn tìm thấy những mẩu vàng vụn và bụi vàng cám, vì vậy lũ
tiên tí hon không còn nhảy múa và kêu chiêm chiếp như trước đây.
Giờ chúng chỉ có hại, những quân kẻ cắp phiền phức suốt ngày cố ăn
trộm số vàng ít ỏi chúng tôi kiếm được. Chúng cắn người ta để lấy
vàng. Tiên tí hon không lớn hơn ngón tay, trông chúng rất dễ thương,
mỏng manh và vô hại với đôi cánh lấp lánh và mái tóc đầy màu sắc,
thế nhưng vết cắn của chúng gây đau đớn tệ hại hơn cả vết ong chích,
sóc cắn và thường xuân độc cộng lại. Tôi đã từng lãnh đủ rồi.
Con tiên tí hon trên cánh tay tôi cuối cùng đã kết luận rằng tôi
không có vàng và bay đi. Tôi xúc thêm bùn dưới rãnh và đảo đều
trong chảo. Không có vàng, chỉ rặt bùn, bùn và bùn.
Tăm, tăm, tăm
Băm, băm, băm
Rump, Rump, Rump
Tôi không tìm được thêm chút vàng nào. Chúng tôi làm việc tới
khi mặt trời xuống thấp, và một con quỷ lùn chạy ngang qua khu mỏ
rêu rao, “Ngày đã hết! Ngày đã hết!” bằng một chất giọng vui tươi và
hân hoan đến nỗi tôi cảm thấy cái thôi thúc muốn đá văng nó ra khỏi
Ngọn Núi. Nhưng rồi tôi dịu lại. Giờ tôi có thể về nhà, có lẽ Nội đã
thịt một con gà. Có lẽ bà sẽ kể tôi nghe một câu chuyện giúp tôi ngừng
suy nghĩ về ngày sinh, về cái tên và về vận mệnh của mình.
Tôi xếp dụng cụ đãi vàng sang một bên rồi lững thững đi bộ
xuống ngọn núi để về làng. Red cũng đang bước một mình, trước tôi
một đoạn. Những người làng còn lại túm tụm thành từng nhóm, một
số trẻ con đi với nhau, số khác đi cùng với bố mẹ chúng. Một số
người vác những bao da đầy ắp vàng. Những người kiếm được nhiều
vàng hơn sẽ nhận được thêm khẩu phần lương thực. Nếu họ tìm
được một lượng vàng lớn, họ có thể giữ lại một phần để đem trao đổi
hàng hóa ngoài chợ. Tôi chẳng bao giờ kiếm đủ vàng dù chỉ để đổi lấy
khẩu phần.
Bầy tiên tí hon đập cánh trước mặt tôi, kêu chiêm chiếp vào tai tôi
còn tôi thì cố gắng đập chúng. Giá như bầy tiên có thể chỉ cho tôi một
đống vàng trên mặt đất, thì cho dù tôi có nhỏ bé thế này cũng chẳng
nhằm nhò gì. Nếu tôi có thật nhiều vàng, có lẽ không ai còn dám nhạo
báng tôi và tên tôi cũng không trở thành trò cười nữa. Vàng sẽ giúp
tôi nâng cao vị thế.
CHƯƠNG 2
Xa quay sợi và cơn kích
động của bầy tiên tí hon
Nhà là nơi tránh nắng mưa
Bước qua cánh cửa nhớ chừa khổ đau
Chẳng ai chế nhạo bạn đâu
Cái tên xấu xí, cái đầu chẳng khôn
Và một thân thể tí hon…
Tôi tự nghĩ ra những vần thơ ấy.
Thơ ca giúp tôi vơi đi buồn khổ. Bà mụ Gertrude bảo tôi thơ thẩn
là thứ vô bổ, nhưng tôi thích những giai điệu của chúng. Khi bạn cất
lên những âm tiết có vần có điệu, bạn sẽ thấy như vạn vật trên thế
giới đều ở đúng chỗ của nó, và bất cứ điều gì bạn nói cũng đúng đắn
và mạnh mẽ.
Nhà tôi là một túp lều tranh bé xíu. Mái xiên xẹo và dột nát mỗi
khi trời mưa, nhưng Nội đang ở trong đó và bà chẳng bao giờ bận
tâm đến cái tên của tôi.
Khi bước vào nhà, tôi được chào đón bởi luồng không khí ấm áp
và mùi thơm toả ra từ bánh mì và hành. Nội đang ngồi khâu bên bếp
lửa, không hề dừng tay khi tôi về, nhưng bà chào đón tôi bằng một nụ
cười và một bài thơ.
“Rửa ráy chân tay, chùi sạch đôi giày, lại hôn bà này, ngồi xuống
ăn ngay.”
Những vần thơ của Nội khiến lòng tôi ấm áp. Bà không hề nhắc
tới ngày sinh nhật của tôi và tôi lại cảm thấy vui vẻ. Tôi tuân thủ tất cả
các mệnh lệnh của Nội và ngồi xuống tấm thảm cạnh bếp lửa. Tôi
múc một bát súp hành và húp.
“Kể cho bà nghe về ngày hôm nay của con đi,” Nội nói.
Tôi không kể cho bà về món quà của Frederick và Bruno, bởi nó
sẽ làm bà rất buồn hoặc rất giận, mà tôi ghét thấy nhìn Nội như thế.
Tôi quyết định chuyển sang đề tài đỡ kinh khủng nhất trong ngày.
“Con không tìm được chút vàng nào cả,” tôi nói.
“Ừm,” Nội nói. “Chả có gì đáng xấu hổ. Cũng chẳng còn mấy vàng
ở Ngọn Núi này. Ăn bữa tối đi con.”
Có hai lát bánh mì mỏng dính nằm trên mặt lò. Tôi xử lý một lát
chỉ trong nháy mắt và dán mắt vào lát bánh còn lại.
“Ăn nốt đi,” Nội ra lệnh.
“Thế còn bà?”
“Bà ăn rồi. Món bánh quả lý gai”. Tôi nhìn thân hình khẳng khiu
khô héo của Nội. Tay bà gầy giơ xương và những đường gân xanh nổi
lên rõ mồn một. Bà run run xâu sợi chỉ qua lỗ kim. Tôi biết bà ăn
không đủ no, và bà nhịn đói để tôi được ăn nhiều hơn. Tôi, một đứa
trẻ đã nhiều năm không chịu lớn.
“Con không đói,” tôi nói.
“Vậy tốt, mang nó cho gà ăn đi,” bà bảo.
Tôi chằm chằm nhìn miếng bánh. Tôi đói. Tôi không đủ đói để ăn
tranh phần bánh với bà của mình, nhưng tôi đủ đói để giành phần với
lũ gà. Tôi cầm lát bánh và ăn nốt, nhưng nó chẳng thể khiến tôi no
bụng.
Tôi đã mười hai tuổi. Mười hai là độ tuổi mà hầu hết lũ con trai
đã được coi là đàn ông và chúng bắt đầu làm việc trong hầm mỏ bằng
cuốc chim để tìm kiếm những cục vàng lớn, còn tôi thì thậm chí
không được phép cầm cây xẻng. Với nửa cái tên, tôi chỉ được coi là
một nửa con người.
Đôi lúc tôi nghĩ chỉ cần tập trung hơn nữa, tôi sẽ nhớ ra cái tên
mẹ đã nói thầm cho tôi biết trước khi mất. Đôi lúc tôi vẫn tưởng
tượng thấy cái tên ấy thì thầm trong tai mình. Rump... Rumpus,
Rump- alini, Rumpalicious, Rumperdink, Rumpty-dumpty. Tôi đã
từng đọc to hàng trăm cái tên. Nó luôn mơn trớn não bộ của tôi như
chiếc lông vũ, nhưng cái tên thật của tôi, nếu tôi từng có, chưa bao giờ
xuất hiện.
“Nội ơi, nếu con không bao giờ tìm ra tên thật của mình thì sao?”
Chiếc kim của Nội dừng trên không trung trong giây lát. “Đừng lo
lắng quá nhiều về chuyện đó, con yêu.”
Bà luôn nói như vậy khi tôi hỏi về tên gọi hoặc vận mệnh của
mình. Trước đây, tôi luôn nghĩ rằng bà muốn tôi kiên nhẫn hơn và
đừng lo lắng. Tôi đã tưởng bà muốn trấn an tôi rằng mọi việc sẽ ổn,
và rằng một ngày nào đó tôi sẽ tìm được tên đầy đủ của mình và có
một số phận tốt đẹp. Nhưng giờ tôi nhận ra rằng, có lẽ bà chỉ nói thế
vì tôi sẽ chẳng bao giờ tìm ra tên thật.
“Lỡ con phải mang cái tên Rump đến lúc chết thì sao?”
“Con vẫn còn trẻ,” Nội trả lời. “Cái tên Rump có thể hóa thành
một vận mệnh vĩ đại... vào phút cuối.” Tôi nhìn thấy bà đang cắn chặt
môi để nhịn cười.
“Chẳng có gì buồn cười cả, Nội ơi”, tôi nói dù cũng đang nín thở
vì cười. Cuộc đời sẽ trở nên khắc nghiệt và u ám biết bao nếu như tôi
chẳng thể tự giễu mình.
“Ai cũng phải sinh ra và chết đi,” Nội bảo. “Và dù con có là thằng
Rump đến tận cuối đời, Nội vẫn thương yêu con như vậy.”
“Nhưng còn khoảng giữa đó thì sao?” Tôi hỏi. “Tất cả những điều
xảy ra ở giữa đó khiến con người ta trở nên đặc biệt. Làm sao con có
thể sống một cuộc đời đặc biệt nếu như không có một cái tên đặc
biệt?”
“Con có thể bắt đầu bằng việc lấy cho bà thêm ít củi,” Nội nói. Đây
là cách bà khiến tôi ngừng cảm thấy thương xót cho bản thân mình.
Cuộc sống vẫn tiếp diễn. Làm việc đi.
Tôi bước ra khỏi nhà và hít căng lồng ngực bầu không khí trong
lành. Mùa hè đang tàn dần. Lá trên cây bắt đầu ngả vàng. Milk(1), con
dê nhà tôi, buộc ở gốc cây, đang bỏm bẻm nhai lá của một khóm cây
bụi.
“Xin chào, Milk,” tôi nói. Milk be lên một tiếng chào mừng.
Con lừa Nothing(2) thì không bị buộc cũng chẳng bị nhốt, bởi lẽ
nó không đời nào chịu di chuyển trừ khi đuôi nó bị cháy. “Xin chào,
Nothing,” tôi nói. Nothing không đáp lại.
Chúng tôi không đặt tên cho súc vật, bởi tên là thứ đặc biệt chỉ
dành cho con người, nhưng tôi luôn cảm giác cần gọi chúng bằng cái
gì đó, nên tôi gọi con dê là Milk vì nó cho chúng tôi sữa, còn con lừa là
Nothing vì nó chẳng làm được việc gì cả. Ngày xưa, nó từng giúp đỡ
cha tôi trong khu mỏ, nhưng giờ tôi chẳng bắt nó làm được điều gì. Vì
thế, tên nó là Nothing và tên nó làm tôi cảm thấy đỡ tủi hơn chút xíu
về bản thân mình.
Tôi ôm bó củi trên tay và lũ gà mổ quanh chân tôi để nhặt những
con bọ rơi ra từ bó củi. Đống củi vơi dần. Tôi sẽ phải lấy thêm củi từ
chỗ người tiều phu trước khi mùa đông tới.
Tôi đang xếp thanh củi cuối cùng lên tay thì nhìn thấy một thứ gì
đó, một mảnh gỗ hình thù kỳ dị nằm trên đống củi. Nó tròn và mềm
mại. Tôi dẹp bớt củi ra và nhìn thấy những nan hoa và con suốt - một
cỗ xa quay sợi. Tôi dừng tay, băn khoăn. Xa quay sợi ở vùng Ngọn
Núi này rất hiếm. Tôi chỉ biết trông nó như thế nào bởi vì cô con gái
duy nhất của ông chủ cối xay có một chiếc, cô ta thường quay len
thành sợi để đổi lấy vàng hoặc khẩu phần thực phẩm của họ. Nhiều
khi làm như vậy còn rẻ hơn là mua vải và sợi ở ngoài chợ. Ngoài ra tôi
chưa thấy ai khác cũng sở hữu xa quay sợi. Một cỗ xa quay sợi làm gì
trên đống củi nhỉ?
Sau khi đặt củi cạnh bếp lò, tôi hỏi Nội về cỗ xa. Bà xua tôi đi chỗ
khác và tập trung vào công việc khâu vá. “Ôi cái thứ cũ rích đó, nó vô
dụng ấy mà. Chúng ta nên dùng nó làm củi thôi.”
“Nó đến từ đâu ạ?” Tôi hỏi.
“Nó từng là của mẹ con.”
Xa quay sợi của mẹ! Biết rằng nó là của mẹ và mẹ đã từng quay
sợi bằng nó khiến tôi cảm thấy hiểu về mẹ nhiều hơn. “Bà còn giữ thứ
gì mẹ con đã quay không ạ?”
“Không”, Nội đáp bằng giọng kín kẽ. “Mẹ con bán tất cả mọi thứ
nó quay được.”
“Con có thể giữ cái xa quay sợi này được không?” tôi hỏi.
“Nó có thể đã bị rỉ sét và méo mó. Tốt hơn là con nên chẻ nó làm
củi.”
“Con không có thứ gì của mẹ con. Có lẽ mẹ cũng muốn con giữ
thứ gì đó của mẹ.”
“Nhưng không phải cái đó,” Nội nói.
“Con xin Nội đấy. Hãy để con giữ nó. Cho ngày sinh nhật con”.
Cuối cùng Nội cũng ngẩng lên nhìn tôi. Tôi chưa bao giờ nói về ngày
sinh nhật của mình, nhưng tôi muốn có cỗ xa quay sợi của mẹ. Nó
giống như một phần nhỏ còn sót lại của mẹ tôi, và nếu như đốt nó,
mẹ sẽ vĩnh viễn đi xa.
Nội thở dài. “Con hãy giữ nó khuất khỏi tầm mắt ta. Ta không
muốn nhìn thấy nó.”
Tôi làm việc luôn tay luôn chân cho tới khi tia nắng cuối cùng của
ngày tắt hẳn và trời sập tối, di chuyển đống củi ra chỗ khác để tiếp
cận cỗ xa. Tôi mang nó vào nhà và đặt cạnh giường. Tôi miết bàn tay
vào những vết trầy xước và cong vênh như thể chúng được làm từ
vàng mười. Tôi quay cái bánh xe và thật ngạc nhiên là nó không hề
lung lay hay kêu kẽo kẹt vì han rỉ. Nó phát ra âm thanh vo vo nhè nhẹ,
gần giống như một thứ âm nhạc. Vài con tiên tí hon bay ra khỏi vết
nứt và nhảy múa trên bánh xe, kêu chiêm chiếp bằng cái giọng tí hon
của nó. Nội cau mày. Bà nhìn cỗ xa như thể nó là một bãi bùn dây
khắp sàn nhà vậy.
“Con thử được không?” Tôi háo hức hỏi.
“Con còn quá nhỏ,” Nội đáp. “Có lẽ đợi đến khi con lớn hơn một
chút nhé.”
Tôi cau mày. Suốt bốn năm qua tôi có lớn thêm chút nào đâu.
“Con có thể duỗi thẳng chân ra này, Nội thấy không ạ? Và chúng ta có
một ít len...”
“Không,” Nội sắc giọng trả lời, rồi lại dịu giọng. “Đó là một việc
rất khó con yêu ạ, kể cả khi con biết cách, và bà không muốn con bị
kẹp tay.”
“Có lẽ con gái ông chủ cối xay...”
“Động não chút đi, nhóc con.” Nội đanh giọng ngắt lời tôi. “Con
bé sẽ nghĩ con muốn tranh giành công việc với nó và khi đó lão chủ
cối xay sẽ chiếm đoạt khẩu phần lương thực của chúng ta, lão lừa đảo
đó.” Mặt Nội đỏ phừng phừng. Tôi hơi lùi lại một chút khi bà hít một
hơi thật sâu.
“Dù sao thì ngày xưa cha con đã định chẻ nó làm củi. Mẹ con
không thích quay sợi. Nó ghét việc đó. Nó chỉ làm vì... nó buộc phải
thế.” Nội nhắm nghiền mắt và thở dài như thể việc kể chuyện về cha
mẹ tôi đã lấy đi của bà rất nhiều sức lực. Bà chưa từng nhắc đến mẹ
tôi hay cha tôi. Cha tôi là con trai duy nhất của bà, và ông chết ở mỏ
trước khi tôi sinh ra. Nghĩ đến chuyện đó hẳn khiến cho Nội rất đau
lòng. Và bà cũng không bao giờ nhắc đến mẹ tôi, tôi đoán là do bà biết
quá ít về mẹ. Nhưng đến tận bây giờ tôi mới ngờ rằng bà biết nhiều
điều về mẹ tôi, nhưng vì lý do nào đó mà bà không muốn nói cho tôi.
Khuya hôm đó, khi đống lửa chỉ còn là những đốm than le lói và
Nội đã ngáy đều, tôi trườn ra khỏi giường, ngồi xuống cạnh cỗ xa
quay sợi. Tôi đặt hai tay mình lên thớ gỗ. Ngay cả trong ánh sáng yếu
ớt, tôi vẫn nhận thấy nó đã rất cũ, xiêu vẹo và trầy xước qua bao năm
tháng dầm mưa dãi nắng. Dẫu vậy, nó vẫn giống như một người bạn
trung thành câm lặng, đang nằm yên đợi cơ hội để có thể trò chuyện
với tôi và chúng tôi có thể trò chuyện với nhau.
Có len ở trên tủ chén, một giọng nói thì thầm trong đầu tôi. Nội sẽ
chẳng bao giờ biết đâu.
Giọng nói ấy rất thuyết phục mà tôi thì lại dễ bị thuyết phục. Tôi
lấy len.
Tôi đã phải duỗi căng người để chạm được tới cái bàn đạp. Chân
tôi nhấn bàn đạp rất khó khăn, nhưng rồi bánh xe bắt đầu nhanh
chóng quay tít với một giai điệu quen thuộc, giống như một bài hát ru
cho tôi bên vành nôi.
Vo, vo, vo.
Trái tim tôi chạy đua cùng tiếng nhạc, những khúc cao và nhịp
điệu của tiếng xa quay khiến tôi cảm thấy mình lớn bổng và tràn đầy
sức sống.
Tôi cho len vào cỗ xa, nhưng ngón tay tôi bị kẹp và vòng quay
khựng lại, nghiến bàn tay tôi vào giữa những nan hoa. Tôi giật tay ra,
cảm giác da mình bị xé toang khi ngã bổ xuống sàn nhà.
Vài con tiên tí hon xuất hiện từ những vết nứt bên lò sưởi và bay
về phía cỗ xa. Tôi vẫn ngồi yên, ôm ngón tay bị thương. Thêm nhiều
tiên tí hon nữa bay quanh cỗ xa quay sợi, nhảy múa trên những con
suốt và nan hoa. Cuối cùng chúng bay về phía tôi. Chúng bò lên cổ tôi,
bước đi vênh váo trên đầu tôi và cười khúc khích. Giọng bầy tiên cao
vút và chói tai đến mức tiếng cười khúc khích của chúng như rung lên
trong tai bạn. Lũ tiên phiền phức khiến tôi phát điên. Thứ duy nhất
tôi đánh giá cao ở bọn tiên là sự hiện diện của chúng trao cho tôi cái
hy vọng rằng vẫn còn có vàng ở Ngọn Núi. Nhưng hiện tại sao chúng
lại đang quấy nhiễu tôi, trong khi tôi không hề ở gần vàng?
Một tiên tí hon đậu xuống mũi tôi, cù cù. Tôi hắt hơi và con này ré
lên, bay vọt ra xa trong tích tắc, rồi lại quay trở lại, luôn mồm phát ra
những âm thanh chí choé.
Một tiên tí hon với mái tóc đỏ sáng và đôi cánh hình chiếc lá đậu
vào ngón tay chảy máu của tôi và thọc cái chân nhỏ xíu của nó vào vết
thương. Cú chọc giống như vết đâm của một cái kim to. Tôi hét lên
một tiếng đau đớn và rồi cố kìm lại trên đầu lưỡi.
Nội ngừng ngáy.
Lũ tiên lấy đi những sợi len quanh bánh xe, khúc khích cười
những tiếng lanh lảnh và bay vào trong ống khói.
Tôi lặng lẽ trườn vào giường và quấn ngón tay chảy máu của
mình vào trong chăn. Tôi nghe thấy tiếng bước chân Nội khe khẽ tiến
về phía mình. Tôi nhắm mắt và cố hít thở thật sâu. Sau một phút yên
lặng, tôi hé mắt lén nhìn và thấy Nội đang nhìn chằm chằm vào cỗ xa
quay sợi.
“Ngốc nghếch,” bà nói. “Vứt vào lửa thì có ích hơn.” Bà nắm lấy
bánh xe, kéo lê nó xềnh xệch trên sàn. Trái tim tôi đập thình thịch. Tôi
cứ ngỡ bà sẽ vứt nó vào lò sưởi thật, nhưng rồi bà buông nó ra và
quay trở lại giường. Thế rồi bà lại nhanh chóng ngáy ầm.
Trái tim tôi đập dồn dập một hồi lâu. Ngón tay tôi nhức nhối. Tôi
có cảm giác như cỗ xa quay sợi vừa cắn mình, dường như nó kẹp tôi
bởi nó không muốn tôi quay sợi. Nhưng lũ tiên nhảy nhót xung
quanh tôi giống như chúng muốn tôi quay. Tôi không chắc mình nên
nghe theo ai, lũ tiên hay cỗ xa quay sợi.
CHƯƠNG 3
Lão chủ cối xay tham lam
và đứa con gái
T
ôi thức giấc khi tiếng chuông trong làng ngân vang báo hiệu một
ngày mới đi mỏ bắt đầu. Nội vẫn đang ngủ say, vì vậy tôi lấy một
ít bánh mì khô và pho mát sữa dê rồi bước ra ngoài.
Bầy tiên tí hon ngay lập tức bâu lấy tôi, kêu chiêm chiếp và rú lên
chói tai. Tôi vừa bước loạng choạng vừa xua chúng đi. Thế rồi tôi
giẫm phải đống phân của Nothing.
Vận mệnh của tôi là thế đấy.
Một con quỷ lùn chạy đâm sầm vào tôi và suýt chút nữa thì hất tôi
ngã bổ ngửa. Nó ngân nga, “Tin nhắn cho Bertrand, tin nhắn cho
Bertrand.” Nó sẽ không dừng cho tới khi gặp được Bertrand.
Quỷ lùn rất hữu dụng ở Vương Quốc, nhất là trong một ngôi làng
mà đa số mọi người đều không biết đọc biết viết. Nội cũng bắt tôi học
chữ, nhưng lũ quỷ lùn thích được đi loan tin tức và truyền phát các
tin nhắn. Chúng có thứ khả năng biết được đúng người cần tìm, và sẽ
không dừng lại cho đến khi tìm được.
Thêm nhiều quỷ lùn xuất hiện từ những cửa hang nằm trên mặt
đất, háo hức đi thu thập các thông điệp và chuyển chúng tới tay người
nhận. Quỷ lùn có những cái hang tí hon nằm rải rác khắp làng, ở giữa
đường, giữa những gốc cây và bên rìa những tảng đá. Trông chúng
gần giống như hang thỏ, nhưng chúng tôi cho rằng tất cả hang quỷ
lùn đều dẫn tới một hang động lớn trong lòng đất nơi chúng cất giấu
lương thực. Đó là tất cả những gì chúng tôi đoán, bởi lẽ lũ quỷ trông
khá mập mạp nhưng người ta không bao giờ nhìn thấy chúng ăn uống
trên mặt đất. Frederick và Bruno đã có lần thử đào xuống hang của lũ
quỷ lùn, nhưng đã phải bỏ cuộc sau khi đào sâu đến bốn mét mà
không tìm thấy gì cả.
Ngày hôm đó hầm mỏ đúng như địa ngục. Ngón tay và đầu tôi
phải chịu những cơn nhức buốt dai dẳng. Frederick và Bruno nghĩ
như thế là hài hước lắm khi ném sỏi đá vào đầu tôi mỗi khi chúng
mang đất ra đổ ở rãnh nước. Bầy tiên quấy rầy tôi cả ngày. Tôi hy
vọng rằng đó là điềm báo hiệu một lượng vàng lớn đang nằm trong
bùn, nhưng tôi không tìm được chút nào.
Kết thúc ngày làm việc, ai nấy đều bước về phía cối xay. Hôm nay
là ngày phân phát lương thực. Tôi đi sau Red trong khi dạ dày tôi sôi
réo theo mỗi bước chân, mãi một điệp khúc thức ăn, thức ăn, thức
ăn.
Lúc chúng tôi tới cối xay, đang có rất nhiều tiếng la ó. Ông lão
Rupert đang dứ dứ nắm đấm vào mặt lão chủ cối xay: “Ngươi lừa đảo,
quân nói dối bẩn thỉu! Hàng bao vàng ta đã đào được! Ta đã kiếm
được gấp mười lần chỗ lúa này!” Lão Rupert gào lên. Rupert là một
ông già quắt queo, đi lại rất khó khăn, tuy vậy ông lão vẫn làm việc
trong khu mỏ với chiếc cuốc chim.
“Tôi xin thề danh dự, Rupert thân mến ạ,” lão chủ cối xay trả lời
bằng giọng trơn tuột, “Tôi đã chia cho lão rất công bằng những gì lão
đáng được hưởng. Bột thường hao đi sau khi xay”.
“Nhảm nhí! Ta đã kiếm được rất nhiều vàng nhưng xem này!
Ngươi gọi thế này là công bằng?” Rupert lắc lắc bao bột trước mặt lão
chủ cối xay, rồi quay lại và lắc nó trước toàn thể dân làng. Chỗ bột
chẳng đủ để nướng hai ổ bánh mì.
“Thời buổi khó khăn,” lão chủ cối xay nói. “Chúng ta ai cũng phải
thắt lưng buộc bụng.” Hắn phá lên cười và cái bụng to tướng cũng
rung lên bần bật. Thực đúng là một câu đùa hài hước cho một tên chủ
cối xay phì nộn với mười đứa con ục ịch!
“Quân lừa đảo dơ dáy! Đồ bịp bợm thối tha!”
“Nào, Rupert!” lão chủ cối xay nói bằng giọng pha chút hăm dọa,
“Kiểu thái độ vô ơn đó không phù hợp với lão đâu. Thử tưởng tượng
sang tuần sau sẽ không có chút khẩu phần nào cho lão xem?”
Rupert nín lặng và cuối cùng lão tập tễnh bước xuống đường, lầm
bầm những tiếng chửi rủa đủ lớn cho tất cả đều nghe thấy.
Người đàn bà tiếp theo lĩnh khẩu phần khiêm tốn của mình trong
yên lặng và tất cả dân làng còn lại cũng vậy.
Nội luôn luôn nói rằng lão chủ cối xay, Oswald, là một kẻ bịp
bợm. Người thu thuế hoàng gia không thích tới vùng Ngọn Núi nhiều
hơn nghĩa vụ của y, do đó y chỉ đưa tới những xe bò chất đầy lương
thực và đồ tiếp tế rồi trao toàn quyền cho Oswald phân phối khẩu
phần dựa trên số vàng người dân kiếm được theo cách hắn thấy hợp
lý. Nội nói Oswald luôn bớt lại một phần lương thực của chúng tôi để
giữ lại cho gia đình hắn. Nhưng chúng tôi biết làm gì? Gần đây chúng
tôi không đào được nhiều vàng, và chúng tôi cũng không biết đích xác
lượng lương thực được cất trữ. Chỉ mình Oswald biết và Oswald là
người quyết định chúng tôi được lĩnh bao nhiêu lương thực dựa trên
kết quả công việc của mình. Cả làng đều bị đói, trừ lão chủ cối xay và
gia đình hắn. Liệu một cái tên có thể khiến người ta tham lam, cũng
như tên tôi khiến tôi mãi bé nhỏ?
Khi tôi tiến dần đến đầu hàng, một động tác quay sợi đập vào mắt
tôi. Con gái của lão chủ cối xay, Opal đang ngồi quay sợi ngoài hiên
nhà. Tôi sững người ra ngắm. Tôi quan sát cách bàn chân cô ta dậm
lên bàn đạp và cách bàn tay cô ta nhịp nhàng đưa len vào. Len mỏng
và căng dần ra rồi chuyển thành sợi, như có phép màu.
“Cậu thích công việc quay sợi, phải không?” Lão chủ cối xay đứng
lù lù trước mặt tôi, còn những người khác đều đã ra về. Tôi đã dán
mắt vào Opal trong bao lâu?
“Cháu chỉ tò mò cách quay sợi như thế nào thôi”, tôi đáp.
Lão chủ cối xay nhướng cặp lông mày rậm rì. “Quay sợi là việc
của phụ nữ, nhưng con bé có thể chỉ cho cậu... với một cái giá.” Hắn
nhấc hai túi lương thực, khẩu phần của chúng tôi. Tôi những muốn
đồng ý. Có điều gì đó bên trong tôi thèm được quay sợi đến đau đớn.
Chân tôi rậm rựt theo nhịp điệu quay sợi của Opal. Tay tôi ngứa ngáy
muốn cho một thứ vào bánh xe và nhìn chúng chuyển thành một thứ
khác trước mắt mình. Tôi đã suýt nói có, nhưng rồi tôi nghĩ đến Nội.
Bản thân tôi có thể nhịn đói trong nhiều tuần để học quay sợi, nhưng
tôi không thể phản bội Nội.
“Ồ,” tôi nói. “Không, cháu chỉ muốn ngắm thôi.”
“Phải rồi,” lão chủ cối xay nói. “Opal của ta là báu vật của Ngọn
Núi. Nó là một đám tốt.”
Mặt tôi nóng bừng. Tôi không nói về cô ta. Tại sao tôi lại nhìn cô
ta như vậy chứ?
Dĩ nhiên, cô ta đẹp, với mái tóc vàng óng và đôi môi đỏ thắm như
san hô. Hans Jacobs từng dạm lão chủ cối xay bốn con cừu và một
con bò sữa để được cầm tay cô ta trong ngày cưới. Đó là cả một gia
tài! Nhưng lão chủ cối xay thẳng thừng từ chối. Hắn bảo, Opal xứng
đáng nhiều hơn thế. Hans Jacobs lủi thủi ra về, đầu gục xuống và mọi
người đều nghĩ tay chủ cối xay bị điên. Hắn trông đợi một đám cưới
hoàng gia chắc?
Đúng lúc đó, Opal ngẩng đầu nhìn tôi. Tôi chợt nhận ra điều mình
chưa hề nhận thấy trước đây. Cô ta đẹp, phải, nhưng khuôn mặt cứ
đờ đẫn thế nào. Opal nhìn tôi và rồi cô ta thè lưỡi ra liếm môi, trông
như con ếch đang bắt ruồi. Không đẹp đến thế. Cô ta lại liếm môi, một
dấu hiệu của sự bồn chồn. Tôi tự hỏi liệu Hans Jacobs có nhận thấy
những điều này không. Có lẽ nó sẽ giúp anh ta cảm thấy khá hơn.
Lão chủ cối xay đặt khẩu phần lương thực dưới chân tôi. “Hãy
kiếm thêm ít vàng nữa và ta sẽ kêu Opal dạy cậu cách quay sợi. Con
bé quay sợi rất giỏi, nhưng ta biết có người còn tài năng hơn nhiều,
một thứ... tài năng tự nhiên.” Hắn nhìn tôi rồi nở một nụ cười kỳ dị
trên khuôn mặt. Hắn đang tỏ ra tử tế ư? Tôi chưa bao giờ thấy lão chủ
cối xay tử tế.
Tôi mang lương thực về nhà, nhưng Nội vẫn còn đang nghỉ ngơi
nên chẳng có gì ăn ngoài một ít pho mát. Tôi cho Milk, Nothing và lũ
gà ăn, bọn chúng đồng loạt kêu be be, cục tác đòi ăn thêm. Một con
tiên tí hon đâm sầm vào mặt tôi trong khi một con quỷ lùn chạy luồn
qua chân tôi và rêu rao, “Tin nhắn cho Gertrude! Tin nhắn cho
Gertrude!” bằng một giọng bức thiết. Có lẽ trong làng có một em bé...
1. Tên gọi chính là vận mệnh
2. Xa quay sợi và cơn kích động của bầy tiên tí hon
3. Lão chủ cối xay tham lam và đứa con gái
4. Red và Bà của cô bé
5. Xơ sợi thành chuột, chuột thành đàn chuột
6. Vàng! Vàng! Vàng!
7. Có vàng mới có thức ăn
8. Vàng nghĩa là bí mật
9. Tìm thấy vàng, mất báu vật
10. Những cuộc mặc cả thiếu công bằng
11. Vua Barf
12. Lời nói dối của lão chủ cối xay
13. Phù Thủy Rừng Xanh
14. Rump lên đường giải cứu
15. Rơm, rơm, rơm
16. Một vụ mặc cả quá đắt
17. Những câu chuyện bất tận của bà Martha
18. Đi tìm Stiltskin
19. Quỷ khổng lồ, Phù thủy và Táo độc
20. Quỷ khổng lồ nặng mùi, nhưng cũng rất thính mũi
21. Xa Xa
22. Những Phù Thuỷ Len
23. Phát điên
24. Có chí mà chẳng nên
25. Lời cảnh báo từ Red
26. Những tiếng gọi định mệnh
27. Lão chủ cối xay và tên lái buôn
28. Nỗ lực cuối cùng
29. Trò chơi đoán tên
30. Stiltskin
31. Phép màu trong ngày thứ ba
32. Từ những điều nhỏ bé
Vĩ Thanh Vận mệnh chính là tên của bạn
CHƯƠNG 1
Tên gọi chính là vận mệnh
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
ái tên mẹ đặt cho tôi có nghĩa là mông bò(1). Nó đã trở thành câu
chuyện cười rất được ưa chuộng trong làng, và có lẽ cũng là duy
nhất, nhưng nó không thật sự chính xác. Ít nhất, tôi không tin nó
là sự thật và nội cũng thế. Thật ra mẹ tôi đã đặt cho tôi một cái tên
khác, một cái tên tuyệt vời, nhưng chưa ai từng được nghe. Mọi
người chỉ được nghe phần đầu tiên - phần xấu xí nhất.
Khi sinh tôi mẹ đã rất ốm yếu. Nội kể rằng hồi ấy mẹ bị sốt và ho,
vì thế mà tôi bị sinh non. Tuy nhiên, mẹ vẫn ôm tôi vào lòng và thì
thầm nói cho tôi biết tên của mình. Không ai nghe thấy, ngoại trừ tôi.
“Tên thằng bé là gì?” Nội hỏi. “Nói mẹ nghe tên nó.”
“Tên thằng bé là Rump... Khụ khụ khụ...” Nội đưa cho mẹ một cốc
nước ấm để uống và đón lấy tôi từ tay mẹ.
“Cho mẹ biết tên đầy đủ của thằng bé đi, Anna.”
Nhưng mẹ không còn đủ sức để làm được điều đó nữa. Mẹ hít
một hơi thật sâu rồi thở hắt ra toàn bộ lượng không khí và không hít
thở nữa. Không bao giờ.
Nội kể lúc ấy tôi đã khóc ré lên, nhưng tôi không bao giờ nghe
được tiếng khóc ấy trong tâm tưởng của mình. Tất cả những gì tôi
nghe thấy chỉ là thinh lặng. Không một cử động hay hơi thở. Ngọn
lửa cũng không lép bép và bầy tiên tí hon cũng lặng im.
Cuối cùng, Nội ẵm tôi lên và nói, “Rump! Tên đứa bé là Rump.”
Sáng hôm sau, chuông trong làng ngân vang và lũ quỷ lùn chạy
khắp vùng Ngọn Núi hô lên: “Rump, Rump! Tên đứa bé mới sinh là
Rump!”
Tên tôi không thể thay đổi cũng như rút lại, bởi lẽ ở Vương Quốc,
cái tên không chỉ là thứ mà mọi người gọi bạn. Cái tên còn mang rất
nhiều ý nghĩa và quyền lực. Tên gọi chính là vận mệnh.
Vận mệnh của tôi thật là tồi tệ.
Lên tám tuổi tôi ngừng lớn. Cơ thể tôi quá còi cọc và phải khó
khăn lắm mới có thể làm việc. Bà mụ Gertrude nói, sở dĩ tôi nhỏ bé
như vậy là bởi tôi lớn lên bằng sữa của một con dê yếu ớt thay vì một
bà mẹ khỏe mạnh, nhưng tôi biết sự thật nằm ở cái tên của mình. Bạn
không thể trưởng thành nếu như không có một cái tên đầy đủ.
Tôi cố gắng không nghĩ quá nhiều đến vận mệnh của mình,
nhưng cứ đến ngày sinh nhật là tôi lại nghĩ đến nó. Lần sinh nhật thứ
mười hai, tôi đã chẳng nghĩ được điều gì khác. Tôi ngồi trong khu
mỏ, đãi bùn trong một cái chảo để tìm vàng. Thứ chúng tôi cần là
vàng, vàng và vàng, nhưng những gì tôi thấy chỉ rặt bùn, bùn và bùn.
Những tiếng cuốc chim tạo nên những giai điệu vang vọng khắp
vùng Ngọn Núi. Khắp nơi tràn ngập những âm thanh băm băm, tăm
tăm. Tôi tưởng như Ngọn Núi đang ngân nga: Tăm, tăm, tăm, băm,
băm, băm, Rump, Rump, Rump(2) bởi ít nhất chúng cũng có vần có
điệu.
Tăm, tăm, tăm
Băm, băm, băm
Rump, Rump, Rump
“Mông! Ê này, thằng Mông!”
Tôi rên lên khi Frederick và thằng em Bruno tiến lại gần tôi với nụ
cười nhăn nhở đầy đe dọa. Freedrick và Bruno là con trai của lão chủ
cối xay. Chúng xấp xỉ tuổi tôi, nhưng bự con gấp đôi và xấu xí như
quỷ khổng lồ.
“Chúc mừng sinh nhật Mông! Chúng tao có một món quà tặng
riêng cho mày đây.” Frederick ném một cục đất vào tôi. Bàn tay ngắn
ngủn của tôi cố chặn nó, nhưng nó vẫn đập thẳng vào mặt tôi và cái
mùi của nó khiến tôi phát ọe. Đó không phải là một cục đất.
“Đó là món quà xứng đáng với cái tên của mày!” Bruno nói.
Những đứa trẻ khác cười rú lên.
“Để cậu ấy yên,” một cô bé tên là Red hét lên. Cô bé nhìn trừng
trừng vào Frederick và Bruno, vác cái xẻng trên vai như thể một thứ
vũ khí. Lũ trẻ không cười nữa.
“Ồ! Mày yêu thằng Mông à?”, Frederick nói.
“Đó không phải tên cậu ấy,” Red gằn giọng.
“Thế tên nó là gì? Tại sao nó không nói cho chúng tao?”
“Rump!” Tôi buột miệng nói mà không kịp suy nghĩ. “Tên tao là
Rump!” Lũ trẻ lại cười rộ lên. Tôi đã làm đúng điều chúng muốn.
“Nhưng đó không phải tên thật của tao!” Tôi nói thêm vẻ đầy tuyệt
vọng.
“Không phải sao?” Frederick hỏi.
“Anh nghĩ tên thật của nó là gì?” Bruno hỏi.
Frederick giả vờ suy nghĩ rất lung. “Cái gì đó thật khác thường.
Cái gì đó thật đặc biệt - Mông Bò.”
“Mông Em Bé”, Bruno phụ họa.
“Thịt Mông Nướng!”
Lũ trẻ đều cười. Frederick và Bruno nghiêng ngả vào nhau, ôm
bụng cười chảy cả nước mắt. Chúng lăn lộn trên đất và ré lên eng éc
như lũ lợn.
Trong tích tắc, tôi chợt thấy ghen tị với chúng. Trông chúng có vẻ
rất vui, cười lăn lộn trên mặt đất. Tại sao tôi không thể làm như thế?
Tại sao tôi không được nhập hội cùng bọn chúng?
Thế rồi tôi sực nhớ ra lý do khiến chúng cười.
Red vung xẻng xuống mạnh đến nỗi cây xẻng cắm phập xuống
khoảng đất ngay giữa đầu hai thằng bé. Frederick và Bruno nín bặt.
“Cút đi,” cô bé nói.
Bruno nuốt nước bọt, trợn mắt nhìn cây xẻng chỉ cách mũi nó vài
inch(3). Frederick đứng dậy nhăn nhở cười với Red. “Phải rồi. Chúng
mày muốn được ở riêng với nhau đây mà”. Nói rồi hai anh em bước
đi, khịt khịt mũi và đổ dúi vào nhau.
Tôi cảm thấy Red đang nhìn mình, nhưng tôi chỉ trừng trừng nhìn
vào cái chảo. Tôi nhặt mấy mẩu quà tặng của Frederick và Bruno. Tôi
không muốn nhìn Red.
“Tốt hơn hết hôm nay cậu nên kiếm được ít vàng Rump ạ”, Red
nói.
Tôi giận dữ nhìn cô bé. “Tôi biết. Tôi có ngốc đâu.”
Cô nhướng mày. Nhiều người thực sự nghĩ tôi ngu ngốc vì cái tên
của mình và đôi lúc tôi nghĩ có thể họ đã đúng. Có lẽ nếu bạn chỉ có
nửa cái tên, bạn cũng chỉ có nửa bộ não.
Tôi dán mắt vào chảo bùn, những mong Red đi đi cho khuất mắt,
nhưng cô bé vẫn đứng trước mặt tôi với cây xẻng của mình, như thể
đang thăm dò tôi.
“Khẩu phần ngày càng bị siết chặt”, Red nói. “Nhà vua...”
“Tôi biết, Red.”
Red giận dữ nhìn tôi. “Tốt. Vậy chúc cậu may mắn.” Cô bé đùng
đùng bỏ đi, và tôi còn cảm thấy nặng nề hơn cả lúc bị Frederick và
Bruno ném phân vào mặt.
Red không hẳn là bạn tôi, nhưng cô ấy là người gần với khái niệm
bạn bè nhất mà tôi có. Cô không bao giờ đem tôi ra làm trò cười.
Nhiều lúc cô bảo vệ tôi, và tôi biết lý do tại sao. Tên của cô cũng
không đẹp đẽ gì. Trong khi người ta chế nhạo một cái tên như Red(4).
Red không phải là một cái tên. Nó là một màu sắc, màu sắc ma quỷ.
Nó sẽ đem lại thứ vận mệnh nào chứ?
Tôi vẫn khuấy bùn trong chảo để tìm kiếm một ánh sáng lấp lánh.
Làng chúng tôi sống nhờ vào vàng ở Ngọn Núi, nhưng giờ còn lại rất
ít. Người thu thuế hoàng gia đi thu tất cả chỗ vàng chúng tôi đãi được
và mang nó về cho nhà vua - Vua Barf. Nếu vua Barf hài lòng với vàng
của chúng tôi, ngài sẽ cấp cho chúng tôi thêm khẩu phần lương thực.
Nếu ngài không hài lòng, chúng tôi sẽ bị đói.
Vua Barf thật ra không phải tên là vua Barf. Tên thật của ngài là
Bartholomew Archibald Reginald Fife, một cái tên tuyệt vời, cao quý
và dĩ nhiên là một cái tên mang vận mệnh vĩ đại. Nhưng tôi chẳng
quan tâm cái tên ấy khiến bạn trở nên đẹp đẽ và quyền lực thế nào,
mà đọc chỉ thấy mỏi mồm. Do đó, tôi gọi tắt ngài là Vua Barf, dù tôi
không bao giờ dám nói to cái tên ấy ra.
Một con tiên tí hon bay vào mặt tôi, mái tóc màu hồng nhạt và đôi
cánh trong mờ. Tôi cố xua nó đi nhẹ nhàng, nhưng nó chỉ vỗ cánh rồi
lại tiếp tục cuộc tìm kiếm. Nó cũng đang tìm vàng, giống như tôi.
Tiên tí hon bị ám ảnh bởi vàng. Đã từng có thời chúng rất hữu ích
trong các khu mỏ, bởi lẽ chúng có thể ngửi thấy các mạch vàng lớn
nằm sâu dưới lòng đất từ khoảng cách vài dặm. Khi một bầy tiên tí
hon bay quần thảo quanh một tảng đá nào đó, những người thợ mỏ
sẽ biết đó là nơi họ nên đào.
Nhưng đã nhiều năm nay Ngọn Núi không còn vàng nữa. Chúng
tôi chỉ còn tìm thấy những mẩu vàng vụn và bụi vàng cám, vì vậy lũ
tiên tí hon không còn nhảy múa và kêu chiêm chiếp như trước đây.
Giờ chúng chỉ có hại, những quân kẻ cắp phiền phức suốt ngày cố ăn
trộm số vàng ít ỏi chúng tôi kiếm được. Chúng cắn người ta để lấy
vàng. Tiên tí hon không lớn hơn ngón tay, trông chúng rất dễ thương,
mỏng manh và vô hại với đôi cánh lấp lánh và mái tóc đầy màu sắc,
thế nhưng vết cắn của chúng gây đau đớn tệ hại hơn cả vết ong chích,
sóc cắn và thường xuân độc cộng lại. Tôi đã từng lãnh đủ rồi.
Con tiên tí hon trên cánh tay tôi cuối cùng đã kết luận rằng tôi
không có vàng và bay đi. Tôi xúc thêm bùn dưới rãnh và đảo đều
trong chảo. Không có vàng, chỉ rặt bùn, bùn và bùn.
Tăm, tăm, tăm
Băm, băm, băm
Rump, Rump, Rump
Tôi không tìm được thêm chút vàng nào. Chúng tôi làm việc tới
khi mặt trời xuống thấp, và một con quỷ lùn chạy ngang qua khu mỏ
rêu rao, “Ngày đã hết! Ngày đã hết!” bằng một chất giọng vui tươi và
hân hoan đến nỗi tôi cảm thấy cái thôi thúc muốn đá văng nó ra khỏi
Ngọn Núi. Nhưng rồi tôi dịu lại. Giờ tôi có thể về nhà, có lẽ Nội đã
thịt một con gà. Có lẽ bà sẽ kể tôi nghe một câu chuyện giúp tôi ngừng
suy nghĩ về ngày sinh, về cái tên và về vận mệnh của mình.
Tôi xếp dụng cụ đãi vàng sang một bên rồi lững thững đi bộ
xuống ngọn núi để về làng. Red cũng đang bước một mình, trước tôi
một đoạn. Những người làng còn lại túm tụm thành từng nhóm, một
số trẻ con đi với nhau, số khác đi cùng với bố mẹ chúng. Một số
người vác những bao da đầy ắp vàng. Những người kiếm được nhiều
vàng hơn sẽ nhận được thêm khẩu phần lương thực. Nếu họ tìm
được một lượng vàng lớn, họ có thể giữ lại một phần để đem trao đổi
hàng hóa ngoài chợ. Tôi chẳng bao giờ kiếm đủ vàng dù chỉ để đổi lấy
khẩu phần.
Bầy tiên tí hon đập cánh trước mặt tôi, kêu chiêm chiếp vào tai tôi
còn tôi thì cố gắng đập chúng. Giá như bầy tiên có thể chỉ cho tôi một
đống vàng trên mặt đất, thì cho dù tôi có nhỏ bé thế này cũng chẳng
nhằm nhò gì. Nếu tôi có thật nhiều vàng, có lẽ không ai còn dám nhạo
báng tôi và tên tôi cũng không trở thành trò cười nữa. Vàng sẽ giúp
tôi nâng cao vị thế.
CHƯƠNG 2
Xa quay sợi và cơn kích
động của bầy tiên tí hon
Nhà là nơi tránh nắng mưa
Bước qua cánh cửa nhớ chừa khổ đau
Chẳng ai chế nhạo bạn đâu
Cái tên xấu xí, cái đầu chẳng khôn
Và một thân thể tí hon…
Tôi tự nghĩ ra những vần thơ ấy.
Thơ ca giúp tôi vơi đi buồn khổ. Bà mụ Gertrude bảo tôi thơ thẩn
là thứ vô bổ, nhưng tôi thích những giai điệu của chúng. Khi bạn cất
lên những âm tiết có vần có điệu, bạn sẽ thấy như vạn vật trên thế
giới đều ở đúng chỗ của nó, và bất cứ điều gì bạn nói cũng đúng đắn
và mạnh mẽ.
Nhà tôi là một túp lều tranh bé xíu. Mái xiên xẹo và dột nát mỗi
khi trời mưa, nhưng Nội đang ở trong đó và bà chẳng bao giờ bận
tâm đến cái tên của tôi.
Khi bước vào nhà, tôi được chào đón bởi luồng không khí ấm áp
và mùi thơm toả ra từ bánh mì và hành. Nội đang ngồi khâu bên bếp
lửa, không hề dừng tay khi tôi về, nhưng bà chào đón tôi bằng một nụ
cười và một bài thơ.
“Rửa ráy chân tay, chùi sạch đôi giày, lại hôn bà này, ngồi xuống
ăn ngay.”
Những vần thơ của Nội khiến lòng tôi ấm áp. Bà không hề nhắc
tới ngày sinh nhật của tôi và tôi lại cảm thấy vui vẻ. Tôi tuân thủ tất cả
các mệnh lệnh của Nội và ngồi xuống tấm thảm cạnh bếp lửa. Tôi
múc một bát súp hành và húp.
“Kể cho bà nghe về ngày hôm nay của con đi,” Nội nói.
Tôi không kể cho bà về món quà của Frederick và Bruno, bởi nó
sẽ làm bà rất buồn hoặc rất giận, mà tôi ghét thấy nhìn Nội như thế.
Tôi quyết định chuyển sang đề tài đỡ kinh khủng nhất trong ngày.
“Con không tìm được chút vàng nào cả,” tôi nói.
“Ừm,” Nội nói. “Chả có gì đáng xấu hổ. Cũng chẳng còn mấy vàng
ở Ngọn Núi này. Ăn bữa tối đi con.”
Có hai lát bánh mì mỏng dính nằm trên mặt lò. Tôi xử lý một lát
chỉ trong nháy mắt và dán mắt vào lát bánh còn lại.
“Ăn nốt đi,” Nội ra lệnh.
“Thế còn bà?”
“Bà ăn rồi. Món bánh quả lý gai”. Tôi nhìn thân hình khẳng khiu
khô héo của Nội. Tay bà gầy giơ xương và những đường gân xanh nổi
lên rõ mồn một. Bà run run xâu sợi chỉ qua lỗ kim. Tôi biết bà ăn
không đủ no, và bà nhịn đói để tôi được ăn nhiều hơn. Tôi, một đứa
trẻ đã nhiều năm không chịu lớn.
“Con không đói,” tôi nói.
“Vậy tốt, mang nó cho gà ăn đi,” bà bảo.
Tôi chằm chằm nhìn miếng bánh. Tôi đói. Tôi không đủ đói để ăn
tranh phần bánh với bà của mình, nhưng tôi đủ đói để giành phần với
lũ gà. Tôi cầm lát bánh và ăn nốt, nhưng nó chẳng thể khiến tôi no
bụng.
Tôi đã mười hai tuổi. Mười hai là độ tuổi mà hầu hết lũ con trai
đã được coi là đàn ông và chúng bắt đầu làm việc trong hầm mỏ bằng
cuốc chim để tìm kiếm những cục vàng lớn, còn tôi thì thậm chí
không được phép cầm cây xẻng. Với nửa cái tên, tôi chỉ được coi là
một nửa con người.
Đôi lúc tôi nghĩ chỉ cần tập trung hơn nữa, tôi sẽ nhớ ra cái tên
mẹ đã nói thầm cho tôi biết trước khi mất. Đôi lúc tôi vẫn tưởng
tượng thấy cái tên ấy thì thầm trong tai mình. Rump... Rumpus,
Rump- alini, Rumpalicious, Rumperdink, Rumpty-dumpty. Tôi đã
từng đọc to hàng trăm cái tên. Nó luôn mơn trớn não bộ của tôi như
chiếc lông vũ, nhưng cái tên thật của tôi, nếu tôi từng có, chưa bao giờ
xuất hiện.
“Nội ơi, nếu con không bao giờ tìm ra tên thật của mình thì sao?”
Chiếc kim của Nội dừng trên không trung trong giây lát. “Đừng lo
lắng quá nhiều về chuyện đó, con yêu.”
Bà luôn nói như vậy khi tôi hỏi về tên gọi hoặc vận mệnh của
mình. Trước đây, tôi luôn nghĩ rằng bà muốn tôi kiên nhẫn hơn và
đừng lo lắng. Tôi đã tưởng bà muốn trấn an tôi rằng mọi việc sẽ ổn,
và rằng một ngày nào đó tôi sẽ tìm được tên đầy đủ của mình và có
một số phận tốt đẹp. Nhưng giờ tôi nhận ra rằng, có lẽ bà chỉ nói thế
vì tôi sẽ chẳng bao giờ tìm ra tên thật.
“Lỡ con phải mang cái tên Rump đến lúc chết thì sao?”
“Con vẫn còn trẻ,” Nội trả lời. “Cái tên Rump có thể hóa thành
một vận mệnh vĩ đại... vào phút cuối.” Tôi nhìn thấy bà đang cắn chặt
môi để nhịn cười.
“Chẳng có gì buồn cười cả, Nội ơi”, tôi nói dù cũng đang nín thở
vì cười. Cuộc đời sẽ trở nên khắc nghiệt và u ám biết bao nếu như tôi
chẳng thể tự giễu mình.
“Ai cũng phải sinh ra và chết đi,” Nội bảo. “Và dù con có là thằng
Rump đến tận cuối đời, Nội vẫn thương yêu con như vậy.”
“Nhưng còn khoảng giữa đó thì sao?” Tôi hỏi. “Tất cả những điều
xảy ra ở giữa đó khiến con người ta trở nên đặc biệt. Làm sao con có
thể sống một cuộc đời đặc biệt nếu như không có một cái tên đặc
biệt?”
“Con có thể bắt đầu bằng việc lấy cho bà thêm ít củi,” Nội nói. Đây
là cách bà khiến tôi ngừng cảm thấy thương xót cho bản thân mình.
Cuộc sống vẫn tiếp diễn. Làm việc đi.
Tôi bước ra khỏi nhà và hít căng lồng ngực bầu không khí trong
lành. Mùa hè đang tàn dần. Lá trên cây bắt đầu ngả vàng. Milk(1), con
dê nhà tôi, buộc ở gốc cây, đang bỏm bẻm nhai lá của một khóm cây
bụi.
“Xin chào, Milk,” tôi nói. Milk be lên một tiếng chào mừng.
Con lừa Nothing(2) thì không bị buộc cũng chẳng bị nhốt, bởi lẽ
nó không đời nào chịu di chuyển trừ khi đuôi nó bị cháy. “Xin chào,
Nothing,” tôi nói. Nothing không đáp lại.
Chúng tôi không đặt tên cho súc vật, bởi tên là thứ đặc biệt chỉ
dành cho con người, nhưng tôi luôn cảm giác cần gọi chúng bằng cái
gì đó, nên tôi gọi con dê là Milk vì nó cho chúng tôi sữa, còn con lừa là
Nothing vì nó chẳng làm được việc gì cả. Ngày xưa, nó từng giúp đỡ
cha tôi trong khu mỏ, nhưng giờ tôi chẳng bắt nó làm được điều gì. Vì
thế, tên nó là Nothing và tên nó làm tôi cảm thấy đỡ tủi hơn chút xíu
về bản thân mình.
Tôi ôm bó củi trên tay và lũ gà mổ quanh chân tôi để nhặt những
con bọ rơi ra từ bó củi. Đống củi vơi dần. Tôi sẽ phải lấy thêm củi từ
chỗ người tiều phu trước khi mùa đông tới.
Tôi đang xếp thanh củi cuối cùng lên tay thì nhìn thấy một thứ gì
đó, một mảnh gỗ hình thù kỳ dị nằm trên đống củi. Nó tròn và mềm
mại. Tôi dẹp bớt củi ra và nhìn thấy những nan hoa và con suốt - một
cỗ xa quay sợi. Tôi dừng tay, băn khoăn. Xa quay sợi ở vùng Ngọn
Núi này rất hiếm. Tôi chỉ biết trông nó như thế nào bởi vì cô con gái
duy nhất của ông chủ cối xay có một chiếc, cô ta thường quay len
thành sợi để đổi lấy vàng hoặc khẩu phần thực phẩm của họ. Nhiều
khi làm như vậy còn rẻ hơn là mua vải và sợi ở ngoài chợ. Ngoài ra tôi
chưa thấy ai khác cũng sở hữu xa quay sợi. Một cỗ xa quay sợi làm gì
trên đống củi nhỉ?
Sau khi đặt củi cạnh bếp lò, tôi hỏi Nội về cỗ xa. Bà xua tôi đi chỗ
khác và tập trung vào công việc khâu vá. “Ôi cái thứ cũ rích đó, nó vô
dụng ấy mà. Chúng ta nên dùng nó làm củi thôi.”
“Nó đến từ đâu ạ?” Tôi hỏi.
“Nó từng là của mẹ con.”
Xa quay sợi của mẹ! Biết rằng nó là của mẹ và mẹ đã từng quay
sợi bằng nó khiến tôi cảm thấy hiểu về mẹ nhiều hơn. “Bà còn giữ thứ
gì mẹ con đã quay không ạ?”
“Không”, Nội đáp bằng giọng kín kẽ. “Mẹ con bán tất cả mọi thứ
nó quay được.”
“Con có thể giữ cái xa quay sợi này được không?” tôi hỏi.
“Nó có thể đã bị rỉ sét và méo mó. Tốt hơn là con nên chẻ nó làm
củi.”
“Con không có thứ gì của mẹ con. Có lẽ mẹ cũng muốn con giữ
thứ gì đó của mẹ.”
“Nhưng không phải cái đó,” Nội nói.
“Con xin Nội đấy. Hãy để con giữ nó. Cho ngày sinh nhật con”.
Cuối cùng Nội cũng ngẩng lên nhìn tôi. Tôi chưa bao giờ nói về ngày
sinh nhật của mình, nhưng tôi muốn có cỗ xa quay sợi của mẹ. Nó
giống như một phần nhỏ còn sót lại của mẹ tôi, và nếu như đốt nó,
mẹ sẽ vĩnh viễn đi xa.
Nội thở dài. “Con hãy giữ nó khuất khỏi tầm mắt ta. Ta không
muốn nhìn thấy nó.”
Tôi làm việc luôn tay luôn chân cho tới khi tia nắng cuối cùng của
ngày tắt hẳn và trời sập tối, di chuyển đống củi ra chỗ khác để tiếp
cận cỗ xa. Tôi mang nó vào nhà và đặt cạnh giường. Tôi miết bàn tay
vào những vết trầy xước và cong vênh như thể chúng được làm từ
vàng mười. Tôi quay cái bánh xe và thật ngạc nhiên là nó không hề
lung lay hay kêu kẽo kẹt vì han rỉ. Nó phát ra âm thanh vo vo nhè nhẹ,
gần giống như một thứ âm nhạc. Vài con tiên tí hon bay ra khỏi vết
nứt và nhảy múa trên bánh xe, kêu chiêm chiếp bằng cái giọng tí hon
của nó. Nội cau mày. Bà nhìn cỗ xa như thể nó là một bãi bùn dây
khắp sàn nhà vậy.
“Con thử được không?” Tôi háo hức hỏi.
“Con còn quá nhỏ,” Nội đáp. “Có lẽ đợi đến khi con lớn hơn một
chút nhé.”
Tôi cau mày. Suốt bốn năm qua tôi có lớn thêm chút nào đâu.
“Con có thể duỗi thẳng chân ra này, Nội thấy không ạ? Và chúng ta có
một ít len...”
“Không,” Nội sắc giọng trả lời, rồi lại dịu giọng. “Đó là một việc
rất khó con yêu ạ, kể cả khi con biết cách, và bà không muốn con bị
kẹp tay.”
“Có lẽ con gái ông chủ cối xay...”
“Động não chút đi, nhóc con.” Nội đanh giọng ngắt lời tôi. “Con
bé sẽ nghĩ con muốn tranh giành công việc với nó và khi đó lão chủ
cối xay sẽ chiếm đoạt khẩu phần lương thực của chúng ta, lão lừa đảo
đó.” Mặt Nội đỏ phừng phừng. Tôi hơi lùi lại một chút khi bà hít một
hơi thật sâu.
“Dù sao thì ngày xưa cha con đã định chẻ nó làm củi. Mẹ con
không thích quay sợi. Nó ghét việc đó. Nó chỉ làm vì... nó buộc phải
thế.” Nội nhắm nghiền mắt và thở dài như thể việc kể chuyện về cha
mẹ tôi đã lấy đi của bà rất nhiều sức lực. Bà chưa từng nhắc đến mẹ
tôi hay cha tôi. Cha tôi là con trai duy nhất của bà, và ông chết ở mỏ
trước khi tôi sinh ra. Nghĩ đến chuyện đó hẳn khiến cho Nội rất đau
lòng. Và bà cũng không bao giờ nhắc đến mẹ tôi, tôi đoán là do bà biết
quá ít về mẹ. Nhưng đến tận bây giờ tôi mới ngờ rằng bà biết nhiều
điều về mẹ tôi, nhưng vì lý do nào đó mà bà không muốn nói cho tôi.
Khuya hôm đó, khi đống lửa chỉ còn là những đốm than le lói và
Nội đã ngáy đều, tôi trườn ra khỏi giường, ngồi xuống cạnh cỗ xa
quay sợi. Tôi đặt hai tay mình lên thớ gỗ. Ngay cả trong ánh sáng yếu
ớt, tôi vẫn nhận thấy nó đã rất cũ, xiêu vẹo và trầy xước qua bao năm
tháng dầm mưa dãi nắng. Dẫu vậy, nó vẫn giống như một người bạn
trung thành câm lặng, đang nằm yên đợi cơ hội để có thể trò chuyện
với tôi và chúng tôi có thể trò chuyện với nhau.
Có len ở trên tủ chén, một giọng nói thì thầm trong đầu tôi. Nội sẽ
chẳng bao giờ biết đâu.
Giọng nói ấy rất thuyết phục mà tôi thì lại dễ bị thuyết phục. Tôi
lấy len.
Tôi đã phải duỗi căng người để chạm được tới cái bàn đạp. Chân
tôi nhấn bàn đạp rất khó khăn, nhưng rồi bánh xe bắt đầu nhanh
chóng quay tít với một giai điệu quen thuộc, giống như một bài hát ru
cho tôi bên vành nôi.
Vo, vo, vo.
Trái tim tôi chạy đua cùng tiếng nhạc, những khúc cao và nhịp
điệu của tiếng xa quay khiến tôi cảm thấy mình lớn bổng và tràn đầy
sức sống.
Tôi cho len vào cỗ xa, nhưng ngón tay tôi bị kẹp và vòng quay
khựng lại, nghiến bàn tay tôi vào giữa những nan hoa. Tôi giật tay ra,
cảm giác da mình bị xé toang khi ngã bổ xuống sàn nhà.
Vài con tiên tí hon xuất hiện từ những vết nứt bên lò sưởi và bay
về phía cỗ xa. Tôi vẫn ngồi yên, ôm ngón tay bị thương. Thêm nhiều
tiên tí hon nữa bay quanh cỗ xa quay sợi, nhảy múa trên những con
suốt và nan hoa. Cuối cùng chúng bay về phía tôi. Chúng bò lên cổ tôi,
bước đi vênh váo trên đầu tôi và cười khúc khích. Giọng bầy tiên cao
vút và chói tai đến mức tiếng cười khúc khích của chúng như rung lên
trong tai bạn. Lũ tiên phiền phức khiến tôi phát điên. Thứ duy nhất
tôi đánh giá cao ở bọn tiên là sự hiện diện của chúng trao cho tôi cái
hy vọng rằng vẫn còn có vàng ở Ngọn Núi. Nhưng hiện tại sao chúng
lại đang quấy nhiễu tôi, trong khi tôi không hề ở gần vàng?
Một tiên tí hon đậu xuống mũi tôi, cù cù. Tôi hắt hơi và con này ré
lên, bay vọt ra xa trong tích tắc, rồi lại quay trở lại, luôn mồm phát ra
những âm thanh chí choé.
Một tiên tí hon với mái tóc đỏ sáng và đôi cánh hình chiếc lá đậu
vào ngón tay chảy máu của tôi và thọc cái chân nhỏ xíu của nó vào vết
thương. Cú chọc giống như vết đâm của một cái kim to. Tôi hét lên
một tiếng đau đớn và rồi cố kìm lại trên đầu lưỡi.
Nội ngừng ngáy.
Lũ tiên lấy đi những sợi len quanh bánh xe, khúc khích cười
những tiếng lanh lảnh và bay vào trong ống khói.
Tôi lặng lẽ trườn vào giường và quấn ngón tay chảy máu của
mình vào trong chăn. Tôi nghe thấy tiếng bước chân Nội khe khẽ tiến
về phía mình. Tôi nhắm mắt và cố hít thở thật sâu. Sau một phút yên
lặng, tôi hé mắt lén nhìn và thấy Nội đang nhìn chằm chằm vào cỗ xa
quay sợi.
“Ngốc nghếch,” bà nói. “Vứt vào lửa thì có ích hơn.” Bà nắm lấy
bánh xe, kéo lê nó xềnh xệch trên sàn. Trái tim tôi đập thình thịch. Tôi
cứ ngỡ bà sẽ vứt nó vào lò sưởi thật, nhưng rồi bà buông nó ra và
quay trở lại giường. Thế rồi bà lại nhanh chóng ngáy ầm.
Trái tim tôi đập dồn dập một hồi lâu. Ngón tay tôi nhức nhối. Tôi
có cảm giác như cỗ xa quay sợi vừa cắn mình, dường như nó kẹp tôi
bởi nó không muốn tôi quay sợi. Nhưng lũ tiên nhảy nhót xung
quanh tôi giống như chúng muốn tôi quay. Tôi không chắc mình nên
nghe theo ai, lũ tiên hay cỗ xa quay sợi.
CHƯƠNG 3
Lão chủ cối xay tham lam
và đứa con gái
T
ôi thức giấc khi tiếng chuông trong làng ngân vang báo hiệu một
ngày mới đi mỏ bắt đầu. Nội vẫn đang ngủ say, vì vậy tôi lấy một
ít bánh mì khô và pho mát sữa dê rồi bước ra ngoài.
Bầy tiên tí hon ngay lập tức bâu lấy tôi, kêu chiêm chiếp và rú lên
chói tai. Tôi vừa bước loạng choạng vừa xua chúng đi. Thế rồi tôi
giẫm phải đống phân của Nothing.
Vận mệnh của tôi là thế đấy.
Một con quỷ lùn chạy đâm sầm vào tôi và suýt chút nữa thì hất tôi
ngã bổ ngửa. Nó ngân nga, “Tin nhắn cho Bertrand, tin nhắn cho
Bertrand.” Nó sẽ không dừng cho tới khi gặp được Bertrand.
Quỷ lùn rất hữu dụng ở Vương Quốc, nhất là trong một ngôi làng
mà đa số mọi người đều không biết đọc biết viết. Nội cũng bắt tôi học
chữ, nhưng lũ quỷ lùn thích được đi loan tin tức và truyền phát các
tin nhắn. Chúng có thứ khả năng biết được đúng người cần tìm, và sẽ
không dừng lại cho đến khi tìm được.
Thêm nhiều quỷ lùn xuất hiện từ những cửa hang nằm trên mặt
đất, háo hức đi thu thập các thông điệp và chuyển chúng tới tay người
nhận. Quỷ lùn có những cái hang tí hon nằm rải rác khắp làng, ở giữa
đường, giữa những gốc cây và bên rìa những tảng đá. Trông chúng
gần giống như hang thỏ, nhưng chúng tôi cho rằng tất cả hang quỷ
lùn đều dẫn tới một hang động lớn trong lòng đất nơi chúng cất giấu
lương thực. Đó là tất cả những gì chúng tôi đoán, bởi lẽ lũ quỷ trông
khá mập mạp nhưng người ta không bao giờ nhìn thấy chúng ăn uống
trên mặt đất. Frederick và Bruno đã có lần thử đào xuống hang của lũ
quỷ lùn, nhưng đã phải bỏ cuộc sau khi đào sâu đến bốn mét mà
không tìm thấy gì cả.
Ngày hôm đó hầm mỏ đúng như địa ngục. Ngón tay và đầu tôi
phải chịu những cơn nhức buốt dai dẳng. Frederick và Bruno nghĩ
như thế là hài hước lắm khi ném sỏi đá vào đầu tôi mỗi khi chúng
mang đất ra đổ ở rãnh nước. Bầy tiên quấy rầy tôi cả ngày. Tôi hy
vọng rằng đó là điềm báo hiệu một lượng vàng lớn đang nằm trong
bùn, nhưng tôi không tìm được chút nào.
Kết thúc ngày làm việc, ai nấy đều bước về phía cối xay. Hôm nay
là ngày phân phát lương thực. Tôi đi sau Red trong khi dạ dày tôi sôi
réo theo mỗi bước chân, mãi một điệp khúc thức ăn, thức ăn, thức
ăn.
Lúc chúng tôi tới cối xay, đang có rất nhiều tiếng la ó. Ông lão
Rupert đang dứ dứ nắm đấm vào mặt lão chủ cối xay: “Ngươi lừa đảo,
quân nói dối bẩn thỉu! Hàng bao vàng ta đã đào được! Ta đã kiếm
được gấp mười lần chỗ lúa này!” Lão Rupert gào lên. Rupert là một
ông già quắt queo, đi lại rất khó khăn, tuy vậy ông lão vẫn làm việc
trong khu mỏ với chiếc cuốc chim.
“Tôi xin thề danh dự, Rupert thân mến ạ,” lão chủ cối xay trả lời
bằng giọng trơn tuột, “Tôi đã chia cho lão rất công bằng những gì lão
đáng được hưởng. Bột thường hao đi sau khi xay”.
“Nhảm nhí! Ta đã kiếm được rất nhiều vàng nhưng xem này!
Ngươi gọi thế này là công bằng?” Rupert lắc lắc bao bột trước mặt lão
chủ cối xay, rồi quay lại và lắc nó trước toàn thể dân làng. Chỗ bột
chẳng đủ để nướng hai ổ bánh mì.
“Thời buổi khó khăn,” lão chủ cối xay nói. “Chúng ta ai cũng phải
thắt lưng buộc bụng.” Hắn phá lên cười và cái bụng to tướng cũng
rung lên bần bật. Thực đúng là một câu đùa hài hước cho một tên chủ
cối xay phì nộn với mười đứa con ục ịch!
“Quân lừa đảo dơ dáy! Đồ bịp bợm thối tha!”
“Nào, Rupert!” lão chủ cối xay nói bằng giọng pha chút hăm dọa,
“Kiểu thái độ vô ơn đó không phù hợp với lão đâu. Thử tưởng tượng
sang tuần sau sẽ không có chút khẩu phần nào cho lão xem?”
Rupert nín lặng và cuối cùng lão tập tễnh bước xuống đường, lầm
bầm những tiếng chửi rủa đủ lớn cho tất cả đều nghe thấy.
Người đàn bà tiếp theo lĩnh khẩu phần khiêm tốn của mình trong
yên lặng và tất cả dân làng còn lại cũng vậy.
Nội luôn luôn nói rằng lão chủ cối xay, Oswald, là một kẻ bịp
bợm. Người thu thuế hoàng gia không thích tới vùng Ngọn Núi nhiều
hơn nghĩa vụ của y, do đó y chỉ đưa tới những xe bò chất đầy lương
thực và đồ tiếp tế rồi trao toàn quyền cho Oswald phân phối khẩu
phần dựa trên số vàng người dân kiếm được theo cách hắn thấy hợp
lý. Nội nói Oswald luôn bớt lại một phần lương thực của chúng tôi để
giữ lại cho gia đình hắn. Nhưng chúng tôi biết làm gì? Gần đây chúng
tôi không đào được nhiều vàng, và chúng tôi cũng không biết đích xác
lượng lương thực được cất trữ. Chỉ mình Oswald biết và Oswald là
người quyết định chúng tôi được lĩnh bao nhiêu lương thực dựa trên
kết quả công việc của mình. Cả làng đều bị đói, trừ lão chủ cối xay và
gia đình hắn. Liệu một cái tên có thể khiến người ta tham lam, cũng
như tên tôi khiến tôi mãi bé nhỏ?
Khi tôi tiến dần đến đầu hàng, một động tác quay sợi đập vào mắt
tôi. Con gái của lão chủ cối xay, Opal đang ngồi quay sợi ngoài hiên
nhà. Tôi sững người ra ngắm. Tôi quan sát cách bàn chân cô ta dậm
lên bàn đạp và cách bàn tay cô ta nhịp nhàng đưa len vào. Len mỏng
và căng dần ra rồi chuyển thành sợi, như có phép màu.
“Cậu thích công việc quay sợi, phải không?” Lão chủ cối xay đứng
lù lù trước mặt tôi, còn những người khác đều đã ra về. Tôi đã dán
mắt vào Opal trong bao lâu?
“Cháu chỉ tò mò cách quay sợi như thế nào thôi”, tôi đáp.
Lão chủ cối xay nhướng cặp lông mày rậm rì. “Quay sợi là việc
của phụ nữ, nhưng con bé có thể chỉ cho cậu... với một cái giá.” Hắn
nhấc hai túi lương thực, khẩu phần của chúng tôi. Tôi những muốn
đồng ý. Có điều gì đó bên trong tôi thèm được quay sợi đến đau đớn.
Chân tôi rậm rựt theo nhịp điệu quay sợi của Opal. Tay tôi ngứa ngáy
muốn cho một thứ vào bánh xe và nhìn chúng chuyển thành một thứ
khác trước mắt mình. Tôi đã suýt nói có, nhưng rồi tôi nghĩ đến Nội.
Bản thân tôi có thể nhịn đói trong nhiều tuần để học quay sợi, nhưng
tôi không thể phản bội Nội.
“Ồ,” tôi nói. “Không, cháu chỉ muốn ngắm thôi.”
“Phải rồi,” lão chủ cối xay nói. “Opal của ta là báu vật của Ngọn
Núi. Nó là một đám tốt.”
Mặt tôi nóng bừng. Tôi không nói về cô ta. Tại sao tôi lại nhìn cô
ta như vậy chứ?
Dĩ nhiên, cô ta đẹp, với mái tóc vàng óng và đôi môi đỏ thắm như
san hô. Hans Jacobs từng dạm lão chủ cối xay bốn con cừu và một
con bò sữa để được cầm tay cô ta trong ngày cưới. Đó là cả một gia
tài! Nhưng lão chủ cối xay thẳng thừng từ chối. Hắn bảo, Opal xứng
đáng nhiều hơn thế. Hans Jacobs lủi thủi ra về, đầu gục xuống và mọi
người đều nghĩ tay chủ cối xay bị điên. Hắn trông đợi một đám cưới
hoàng gia chắc?
Đúng lúc đó, Opal ngẩng đầu nhìn tôi. Tôi chợt nhận ra điều mình
chưa hề nhận thấy trước đây. Cô ta đẹp, phải, nhưng khuôn mặt cứ
đờ đẫn thế nào. Opal nhìn tôi và rồi cô ta thè lưỡi ra liếm môi, trông
như con ếch đang bắt ruồi. Không đẹp đến thế. Cô ta lại liếm môi, một
dấu hiệu của sự bồn chồn. Tôi tự hỏi liệu Hans Jacobs có nhận thấy
những điều này không. Có lẽ nó sẽ giúp anh ta cảm thấy khá hơn.
Lão chủ cối xay đặt khẩu phần lương thực dưới chân tôi. “Hãy
kiếm thêm ít vàng nữa và ta sẽ kêu Opal dạy cậu cách quay sợi. Con
bé quay sợi rất giỏi, nhưng ta biết có người còn tài năng hơn nhiều,
một thứ... tài năng tự nhiên.” Hắn nhìn tôi rồi nở một nụ cười kỳ dị
trên khuôn mặt. Hắn đang tỏ ra tử tế ư? Tôi chưa bao giờ thấy lão chủ
cối xay tử tế.
Tôi mang lương thực về nhà, nhưng Nội vẫn còn đang nghỉ ngơi
nên chẳng có gì ăn ngoài một ít pho mát. Tôi cho Milk, Nothing và lũ
gà ăn, bọn chúng đồng loạt kêu be be, cục tác đòi ăn thêm. Một con
tiên tí hon đâm sầm vào mặt tôi trong khi một con quỷ lùn chạy luồn
qua chân tôi và rêu rao, “Tin nhắn cho Gertrude! Tin nhắn cho
Gertrude!” bằng một giọng bức thiết. Có lẽ trong làng có một em bé...
 





